08 12/2016

TỰ DO Ý CHÍ VÀ SỰ TIẾP NHẬN Ý CHÍ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY - phần 1

TỰ DO Ý CHÍ VÀ SỰ TIẾP NHẬN Ý CHÍ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

 

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội

Trải qua gần mười năm thi hành, Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995 đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Một trong những khiếm khuyết lớn nhất có tính tư tưởng hay tính triết lý của Bộ luật này là chưa thể hiện được đầy đủ, hay nói cách khác, chưa tiếp nhận được đầy đủ học thuyết tự do ý chí.

Trải qua gần mười năm thi hành, Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995 đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Một trong những khiếm khuyết lớn nhất có tính tư tưởng hay tính triết lý của Bộ luật này là chưa thể hiện được đầy đủ, hay nói cách khác, chưa tiếp nhận được đầy đủ học thuyết tự do ý chí. Do đó, khi xây dựng Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 thay thế, những người soạn thảo Bộ luật mới này có quan điểm xuyên suốt là: “Tăng cường quyền tự do hợp đồng thông qua việc các bên được quyết định về đối tác tham gia ký kết hợp đồng, hình thức, nội dung của hợp đồng và trách nhiệm của các bên đối tác khi có vi phạm”[1]. Việc nghiên cứu tự do ý chí và việc tiếp nhận nó trong pháp luật Việt Nam không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu pháp luật Việt Nam nói chung và Bộ luật Dân sự 2005 nói riêng, mà còn có ý nghĩa to lớn trong công tác cải cách pháp luật Việt Nam hiện nay.

I. Khái niệm và nội dung của tự do ý chí

Hiểu rằng hợp đồng là một loại giao ước mà đặc điểm chung của chúng là sự thống nhất ý chí. Vậy ý chí có vai trò cực kỳ quan trọng đối với hợp đồng. Nó được xem là cực kỳ quan trọng bởi nó là yếu tố cơ bản, không thể thiếu được để hình thành hợp đồng, từ đó làm phát sinh ra các nghĩa vụ pháp lý[2]. Không thể nghi ngờ được rằng, thương mại không thể phát triển nếu các thoả thuận được lập ra một cách tự do mà không được thi hành một cách bình thường[3]. Vì vậy, dù ở hệ thống pháp luật nào, người ta cũng đềuthừa nhận nền tảng của luật hợp đồng là tự do ý chí, có nghĩa tự do ý chí là vấn đề trọng yếu của hợp đồng.

Học thuyết tự do đã phát triển mạnh mẽ ở Pháp vào thế kỷ XVIII, theo đó cá nhân chỉ có thể bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình được tuyên bố một cách trực tiếp thông qua các hợp đồng hay gián tiếp thông qua pháp luật. Học thuyết này cho rằng, pháp luật thể hiện ý chí chung của các cá nhân trong xã hội, nên các qui định của pháp luật có giá trị thúc buộc chung mà các cá nhân đã gián tiếp ưng thuận. Học thuyết này nhằm tới mục đích công bằng giữa các cá nhân thông qua tự do thương thuyết, và phát triển kinh tế thông qua tự do cạnh tranh (laisser faire)[4], có nghĩa là “để cho muốn làm gì thì làm”. Tư tưởng này ngày nay được hiểu rằng, chủ nghĩa tự do kinh tế thời đó là một chế độ tự do không giới hạn mà sự công bằng là kết quả tự nhiên có được từ luật nghĩa vụ thích hợp được xây dựng trên nền tảng đặc biệt của sự bình đẳng thích hợp. Hệ quả là các lý thuyết về luật tư ở thế kỷ XIX đều lấy tiền đề từ sự thống trị của quyền tự do cá nhân vô giới hạn[5]. Các tư tưởng từ đó đã ảnh hưởng lớn tới Bộ luật Dân sự Đức 1900. Như vậy cả hai Bộ luật Dân sự (Bộ luật Dân sự Pháp 1804 và Bộ luật Dân sự Đức 1900) làm hình mẫu cho các Bộ luật Dân sự khác đều bị ảnh hưởng sâu sắc bởi học thuyết tự do ý chí.

Với Common Law, tự do hợp đồng là một học thuyết trung tâm của luật hợp đồng cổ điển. Học thuyết này nở rộ và phát triển đầy đủ vào khoảng nửa cuối thế kỷ XIX. Tại đây, pháp luật được tạo ra bởi các thẩm phán và các học thuyết pháp lý bị ảnh hưởng bởi: (1) Ý tưởng khế ước xã hội từ thời của Locke; (2) Tư tưởng kinh tế cổ điển; và (3) Quan niệm về sự liên kết tự nguyện giữa các chủ thể của quan hệ hợp đồng[6]. Học thuyết này có nguồn gốc từ Thời đại Khai sáng với tư tưởng của Locke được thể hiện trong công trình Hai luận thuyết về chính quyền chống lại quyền lực tối thượng thần thánh của các nhà vua. Theo ông, xã hội vận hành tốt nhất khi các khế ước xã hội đã được định rõ điều chỉnh hành vi của con người, và là cách thức tốt nhất để bảo vệ đời sống, tự do và tài sản của cá nhân họ được gọi là các quyền tự nhiên[7].

Các lý thuyết gia về hợp đồng ở thời kỳ cuối thế kỷ XIX đã tiến hành các quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá và hệ thống hoá các vấn đề liên quan tới hợp đồng để xây dựng nên một lý thuyết duy nhất dựa trên các giá trị đạo đức thay thế cho các tín ngưỡng truyền thống có nền tảng là đạo đức đang bị xói mòn. Kết quả là việc xem hợp đồng như luật giữa các cá nhân. Điều đó có nghĩa là họ quan niệm nghĩa vụ hợp đồng phát sinh từ các ý chí của các cá nhân trong một mối quan hệ hợp đồng cụ thể, chứ không phát sinh từ các chế định pháp lý đã được xây dựng có tính lịch sử và xã hội. Theo Lee Boldeman, các tư tưởng này rất giống với các tư tưởng của Locke về tài sản. Nghĩa vụ thực hiện lời hứa là vấn đề trung tâm của luật hợp đồng và cũng là trái tim của luật tự nhiên theo trường phái Locke, nhưng là một luật tự nhiên mà ngày càng mất đi nền tảng trừu tượng của nó[8].

ở Hoa Kỳ, vụ Lochner v. New York, 198 U.S. 45 (1905) là một dấu mốc quan trọng đánh dấu phán quyết của Toà án tối cao Hoa Kỳ hướng tới quyền tự do hợp đồng. Đây là một vụ việc gây tranh luận nhiều nhất trong lịch sử của Toà án tối cao Hoa Kỳ. Nó tạo ra một kỷ nguyên được gọi là kỷ nguyên Lochner. Vào năm 1896, cơ quan lập pháp của tiểu bang New York nhất trí ban hành một đạo luật mang tên Bakeshop Act cấm các cá nhân làm việc tại các cửa hàng bánh mỳ làm việc hơn mười giờ một ngày hoặc hơn sáu mươi giờ một tuần. Năm 1899, Joseph Lochner (người chủ của một cửa hiệu bánh mỳ ở Unita) bị phạt 25 đô la Mỹ vì sử dụng một người lao động làm quá thời gian qui định nói trên. Lần vi phạm thứ hai vào năm 1901, ông ta bị phạt 50 đô la Mỹ tại tòa án quận Oneida. Sau nhiều lần kháng cáo tại Toà án tối cao của New York bị thất bại, ông ta đưa vụ việc lên Toà án tối cao của Hoa Kỳ. Vụ việc này được xét xử trên căn bản Bổ sung thứ mười bốn của Hiến pháp Hoa Kỳ với nội dung: “… không một tiểu bang nào được tước bỏ của bất kỳ người nào đời sống, tự do, hoặc tài sản mà không theo một qui trình pháp luật thích hợp”. Trải qua hàng loạt vụ việc trước đó, Toà án tối cao Hoa Kỳ cho rằng, nguyên tắc này không chỉ là một bảo đảm về luật thủ tục, mà còn là một giới hạn về luật vật chất cho các hành xử của chính quyền đối với người dân. Việc giải thích Hiến pháp này của Toà án tối cao Hoa Kỳ đã in một dấu ấn chắc chắn vào các học thuyết pháp lý ở cuối thế kỷ XIX. Trong vụ việc của mình, Lochner lập luận rằng quyền tự do hợp đồng là một quyền được bao hàm bởi qui trình thích đáng của luật vật chất. Mặc dù trước đó trong các vụ Allgeyer v. Louisiana (1897) và vụ Holden v. Harly (1898) Toà án tối cao Hoa Kỳ đã thừa nhận tự do hợp đồng, nhưng trong vụ Lochner v. New York này, Toà án tối cao Hoa Kỳ phải đối diện với vấn đề rằng liệu Bakeshop Act có đưa ra được các hành xử hợp lý của chính quyền hay không. Rốt cuộc Toà án tối cao Hoa Kỳ đưa ra phán quyết, việc giới hạn thời gian làm việc tại các cửa hiệu bánh mỳ không tạo nên các hành xử hợp pháp của quyền lực cảnh sát[9].

Ngày nay, các điều kiện của hợp đồng được giải thích căn bản trên cơ sở học thuyết tự do ý chí. Người ta thừa nhận rằng ý chí là tự do và ý chí của các bên là yếu tố duy nhất hình thành hợp đồng và làm phát sinh các hậu quả pháp lý[10]. Nhưng với sự phát triển của xã hội, vì đời sống chung của cộng đồng, nên tự do ý chí bị hạn chế trên các phương diện như ký kết, không ký kết, và xác lập hay thay đổi nội dung của hợp đồng. Tuy nhiên, trong bất kể một công trình nghiên cứu nghiêm túc nào về hợp đồng, vấn đề tự do hợp đồng hay tự do ý chí đều được đề cập đến một cách thích đáng. ở các bộ pháp điển hóa về hợp đồng đều có các quy định về nguyên tắc tự do hợp đồng hay tự do ý chí.

Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam định ra nguyên tắc: “Quyền tự do cam kết thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” (Điều 4). Tiếp đó Bộ luật này quy định cụ thể hơn “Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội” (Điều 389, khoản 1).

Luật Thương mại 2005 của Việt Nam cũng có nguyên tắc: “Các bên có quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại và bảo hộ các quyền đó (Điều 11, khoản 1).

Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 quy định tại Điều 1.1 rằngB: “Các bên được tự do giao kết hợp đồng và thỏa thuận nội dung của hợp đồng”. Cũng như vậy, nhưng có phần thận trọng hơn, các nguyên tắc của Luật hợp đồng châu Âu quy định: “Các bên được tự do giao kết hợp đồng và xác định nội dung của hợp đồng phụ thuộc vào các yêu cầu về thiện chí và công bằng và các quy tắc bắt buộc được thiết lập bởi các Nguyên tắc này” (Điều 1.02).

Qua các quy định này, chúng ta có thể nhận thấy tự do hợp đồng là một nguyên tắc hết sức quan trọng của luật hợp đồng mà nếu không có nó thì các thỏa thuận sẽ trở nên vô nghĩa vì không một quan hệ nghĩa vụ nào có thể được tạo thành. Tuy nhiên, nguyên tắc này sẽ bị hạn chế trên một vài phương diện mà chúng ta sẽ nghiên cứu ở mục sau.

Các học giả thường xem xét tự do ý chí trên ba phương diện: triết học, đạo đức và kinh tế.

Về mặt triết học, học thuyết tự do ý chí dựa trên nền tảng của tự do cá nhân, có nghĩa là không ai có thể bị ép buộc làm hay không làm một việc gì đó ngoài ý muốn của họ.

Về mặt đạo đức, học thuyết tự do ý chí dựa trên quan niệm rằng không ai có thể bị ép buộc làm hay không làm một công việc mà không xuất phát từ lợi ích của họ. Do vậy, hợp đồng được xem là sản phẩm của ý chí được hình thành từ lợi ích của các bên tham gia giao kết.

Về mặt kinh tế, học thuyết tự do ý chí dựa trên nhận định rằng, lợi ích cá nhân là động lực thúc đẩy các hoạt động kinh tế. Do đó, tự do ý chí phải được đề cao để con người vì lợi ích của mình trong xã hội tự do cạnh tranh mang lại những lợi ích chung[11].

“Tự do hợp đồng là một tư tưởng mà theo đó các cá nhân được quyền tự do thoả thuận giữa họ với nhau về các điều kiện của hợp đồng, không có sự can thiệp của chính quyền. Bất kể những gì khác hơn các qui định tối thiểu và thuế có thể xem là sự vi phạm nguyên tắc. Nó là trụ cột của học thuyết kinh tế tự do (the theory of laissez- faire economics). Các nhà kinh tế học xem xét nó như một lợi ích đối với xã hội bởi làm tăng sự lựa chọn và làm giảm thất nghiệp gây ra bởi các qui định chẳng hạn như tiền lương tối thiểu”[12].

Triết lý này được đề xuất bởi Adam Smith và Thomas Hobbes nhằm ủng hộ cho các cá nhân sử dụng xã hội như một công cụ để thủ đắc tài sản. Các ông xem nhà nước thông thường như một phương tiện để đạt mục đích, chứ không phải là người qui định, và phản đối sự kiềm chế nhân định đối với ý chí tự do của cá nhân trong việc theo đuổi lợi ích riêng của anh ta. Hobbes đã gọi tự do ý chí là luật tự nhiên tự do (liberal natural law)[13].

Học thuyết tự do ý chí đã dẫn đến một hệ quả trước tiên coi hợp đồng là một loại nguồn quan trọng nhất của nghĩa vụ pháp lý. Bởi vậy, hợp đồng có nhiệm vụ bảo đảm sự tự do và ngay thẳng của ý chí của các đương sự. Từ đó pháp luật về hợp đồng phải có các qui định loại bỏ những trường hợp không bảo đảm sự tự do và ngay thẳng của ý chí. Những người giao kết hợp đồng phải chín chắn về suy nghĩ và ở trạng thái minh mẫn bình thường. Các trường hợp giao kết hợp đồng do nhầm lẫn, do lừa dối hay do bạo lực sẽ làm cho hợp đồng vô hiệu. Do đó, có thể nói chế định vô hiệu của hợp đồng hoàn toàn không trái với vấn đề tự do ý chí[14]. Tuy nhiên, về sự vô hiệu của hợp đồng cũng được các nhà lập pháp nhìn từ giác độ của trật tự công cộng, có nghĩa là hợp đồng sẽ vô hiệu, nếu chống lại trật tự công cộng. Tuy nhiên nhận thức hay giải thích khái niệm trật tự công cộng cũng có những khác biệt nhất định trong các nền tài phán khác nhau, ở những thời điểm lịch sử khác nhau. Chẳng hạn: trong Quốc triều Hình luật của Việt Nam trước kia, mặc dù đã có những qui định buộc thi hành hợp đồng (có nghĩa là có khuynh hướng tự do ý chí), nhưng cũng đã đưa ra nhiều qui định hạn chế tự do ý chí của các thần dân thể hiện tại Điều 41, Chương Tạp luật với qui định người Kinh không được cho người Man Liêu vay nợ, trái luật thì xử biếm hai tư; số tiền cho vay phải xung công.

Các qui định như vậy nhằm bảo đảm đời sống chung của cộng đồng, nhưng đôi khi được giải thích theo hai hướng khác nhau. Một khuynh hướng cho rằng sự duy trì các qui định như vậy nhằm hạn chế bớt một phần của tự do cá nhân vì một lợi ích lớn hơn là sự tồn tại và phát triển của xã hội. Một khuynh hướng khác lại lập luận, khái niệm trật tự công cộng được hình thành từ thế kỷ XIX nhằm bảo đảm tự do cá nhân và sở hữu cá nhân trong trường hợp cần thiết.

Các nghiên cứu trên cho phép chúng ta đi đến nhận định học thuyết tự do ý chí có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhằm biến các dự định hoặc kế hoạch trở thành hiện thực – một trong những chức năng quan trọng của pháp luật nói chung – bởi học thuyết này giúp cho các chủ thể hợp đồng ý thức được sự cưỡng chế của toà án đối với các nghĩa vụ hợp đồng, do đó, các dự định hay kế hoạch của các chủ thể đã được toan tính trước và thể hiện phần nào đó qua hợp đồng được thực hiện.

(còn phần 2)


[1] Đinh Trung Tụng (Chủ biên), Bình luận những nội dung mới của Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2005, tr. 175

[2] Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2. Contrat, TroisiÌme Ðdition, Litec, 1989, p. 3

[3] Edward Younkins, Freedom to contract, Liberty Free Press, June 15, 2000,[http://www.quebecoislibre.org/younkins25.html], 2/2/2008

[4] Vũ Văn Mẫu, Việt nam Dân luật lược khảo -Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 84

[5] Andreas Abegg and Annemarie Thatcher, “Review essay- Freedom of contract in the 19th Century: Mythology and silence of the sources, German Law Journal, No. 1 (1 January 2004)

[6] Lee Boldeman, The Cult of the Market: Economic Fundamentalism and its Discontents, [http://epress.anu.edu.au/cotm/mobile_devices/index.html], 2/7/2008

[7] Wikipedia, the free encyclopedia, Freedom of contract, [http://en.wikipedia.org/wiki/Freedom_of_contract], 2/2/2008

[8] Lee Boldeman, The Cult of the Market: Economic Fundamentalism and its Discontents, [http://epress.anu.edu.au/cotm/mobile_devices/index.html], 2/7/2008

[9] Wikipedia, the free encyclopedia, Lochner v. New York, [http://en.wikipedia.org/wiki/Lochner v. New York], 2/7/2008

[10] Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2. Contrat, Troisième édition, Litec, 1989, p. 4

[11] Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2. Contrat, Troisième édition, Litec, 1989, p. 4-5

[12] Wikipedia, the free encyclopedia, Freedom of contract, [http://en.wikipedia.org/wiki/Freedom_of_contract], 2/2/2008

[13] Wikipedia, the free encyclopedia, Freedom of contract, [http://en.wikipedia.org/wiki/Freedom_of_contract], 2/2/2008

[14] Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2. Contrat, Troisième édition, Litec, 1989, p. 6

[15] Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2. Contrat, Troisième édition, Litec, 1989, p. 9

[16] Wikipedia, the free encyclopedia, Autonomy, [http://en.wikipedia.org/wiki/Autonomy], 2/2/2008

[17] Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2. Contrat, Troisième édition, Litec, 1989, p. 8

[18] Wikipedia, the free encyclopedia, Lochner v. New York, [http://en.wikipedia.org/wiki/Lochner_v.NewYork], 2/7/2008

[19] John D. Calamari, Joseph M. Perillo, The Law of Contracts, Third edition, West Publishing Co., USA, 1987, p. 6

[20] Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2. Contrat, Troisième édition, Litec, 1989, p. 10

[21] Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo luật kinh tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, tr. 401

[22] Roland Amoussou- Guénou, “Triển vọng phát triển các nguyên tắc pháp luật hợp đồng Asean (hoặc Châu Á)”, Hội thảo hợp đồng thương mại quốc tế- Tham luận, Hội thảo do Nhà pháp luật Việt- Pháp tổ chức tại Hà Nội từ ngày 13- 14 tháng 12 năm 2004, tr. 10

[23] Điều 122 qui định:

“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có qui định”

[24] Điều 128, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 định nghĩa: “Điều cấm của pháp luật là những qui định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định”

[25] Conseil constitutionnel, “The main criteria for restricting human rights in the judicial practice of constitutional law”, Human Rights and Public Order, Eighth seminar of constitutional courts, Erevan, 2 to 5 October 2003

[26] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 86

[27] Conseil constitutionnel, “The main criteria for restricting human rights in the judicial practice of constitutional law”, Human Rights and Public Order, Eighth seminar of constitutional courts, Erevan, 2 to 5 October 2003

[28] Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo luật kinh tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, tr. 401- 402

[29] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 90

[30] Harry N. Scheiber, The State and the freedom of contract, Stanford University Press, Stanford- California, USA, 1998, pp. 3; 123

[31] Bradford Stone, Uniform Commercial Code, Third Edition , ST. Paul, Minn. West Publishing Co., 1989, p. 8

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 115 THÁNG 2 NĂM 2008

 

Bình luận của bạn